Kế hoạch chuẩn nén video sau MPEG-HEVC/H.265

1. Công tác chuẩn bị.

Đến hẹn lại lên, sau chu kỳ trên dưới 10 năm lại cần có một chuẩn nén video mới, với nguyên nhân quan trọng nhất là tốc độ truyền data trên internet chỉ tăng gấp 2 trong khi đó với thì màn hình độ phân giải tăng gấp 4. Ngoài ra còn do xuất hiện nhiều xu thế ứng dụng mới mà chuẩn nén video hiện tại chưa đáp ứng phù hợp, cũng có thể thêm một lý do nữa là giải quyết công ăn việc làm cho đám chuyên gia về nghiên cứu kỹ thuật nén video.

Năm 2004 đánh dấu ra đời MPEG-AVC/H.264, cho đến 2009 thì việc bổ sung thêm các công cụ mã hóa đã hoàn thành. MPEG-HEVC/H.265 được phiên bản đầu tiên được thông qua vào 2013, và đến đầu 2017 thì công bố profile SCC(Screen Content Coding Extension) hướng tới các ứng dụng nén hình ảnh không tự nhiên (tức là video các cảnh không phải thực tế, kiểu như phim hoạt hình, các ứng dụng chia sẻ màn hình …) đánh dấu về cơ bản hoàn thành việc phát triển các công cụ mã hóa trong HEVC.

ISO/IEC và ITU-T lại lên kế hoạch cho chuẩn nén video mới, dự định sẽ bản đầu tiên sẽ được công bố vào năm 2020.

Bước đầu tiên để đánh giá sự cần thiết làm ra chuẩn nén video mới bằng cách thực hiện các brainstorm (một kiểu thảo luận tự do nhằm đánh giá nhu cầu), để thu thập ý kiến từ các công ty, các tổ chức chuyên về mã hóa video[1].

2. Yêu cầu chính thức

Sau khi đi đến thống nhất cần một chuẩn nén video mới, thì ISO/IEC và ITU-T sẽ đưa ra tài liệu yêu cầu chính thức cho chuẩn nén video mới[2].

Tài liệu yêu cầu này sẽ miêu tả cụ thể những tiêu chí chuẩn nén video mới, để căn cứ vào đó sau này sẽ quyết định công cụ mã hóa (encoding tool) nào được thông qua để tích hợp vào đó.

Các yêu cầu bao gồm đặc trưng cụ thể của đối tượng mã hóa như kích cỡ khung hình (picture format), khả năng nén (compression performance)…, cũng như phạm vi ứng dụng.Ví dụ lần này đối tượng là 8K, khả năng nén gấp đôi HEVC, trong phần phạm vi ứng dụng đã có đề cập đến thực tế ảo, IoT, Automotive…

3. Thành lập dự án.

Để tiến hành nghiên cứu và thực hiện chuẩn nén mới, 2 bộ phận chuyên trách về mã hóa video, cụ thể là nhóm MPEG (Motion Picture Expert Group) của ISO/IEC và nhóm VCEG(Video Coding Experts Group) của ITU-T sẽ thành lập một nhóm liên kết giữa 2 bên, có tên là JVET(Join Video Explore Team) [3].

JVET được sự tham gia của hầu hết các chuyên gia về kỹ thuật nén video từ các công ty lớn về mảng video như Sony, Gopro, Samsung, Nikon, Qualcomm, Socionext …, và các trường đại học có chuyên môn về mã hóa video (chủ yếu là Hàn, Tàu và Đức).

JVET sẽ thực hiện thực hiện họp 4 lần trong 1 năm, cùng với chu kỳ họp hành của MPEG, để trao đổi các kết quả đạt được cũng như thống nhất nội dung cuộc họp tiếp theo. Toàn bộ tài liệu họp và nội dung các cuộc họp đều được phổ biến rộng rãi trên trang chính của JVET[6], [7].

4. Công cụ phát triển & qui trình làm việc.

Để phát triển chuẩn nén mới, JVET sử dụng công cụ có tên là JEM (Join Exploration Model) [5].

JEM được hiểu đơn giản là một phần mềm thực hiện mã hóa video dựa trên các kết quả đạt được hiện tại. Tức là JEM sẽ là codec đầu tiên cho chuẩn nén video mới, nó được xây dựng trên cơ sở thừa kế của công cụ HM (HEVC model)[12], vốn là công cụ để phát triển HEVC. JEM được sử dụng để kiểm tra các công cụ mã hóa trong quá trình phát triển chuẩn nén mới.

Đồng thời các công ty hay tổ chức khi đưa ra đề nghị công cụ mã hóa mong muốn tích hợp và chuẩn nén mới đều phải có bản sửa JEM có tích hợp công cụ mã hóa đó và kết quả kiểm tra đạt được đó trên JEM đi kèm.

Trong mỗi cuộc họp của JVET sẽ đánh giá kết quả đạt được trong 3 tháng từ cuộc họp lần trước, chủ yếu là xem xét các kết quả đề xuất về công cụ mã hóa lần trước, cùng nhau xem xét những đề xuất mới, ngoài ra cũng không kém phần quan trọng là cùng nhau xem xét lựa chọn ra tập hợp dữ liệu dùng để làm cơ sở đánh giá các các công cụ mã hóa đang được nghiên cứu.

Để phục vụ cho việc xây dựng chuẩn nén video mới, ISO/IEC & ITU-T phát hành thông báo chính thức đến các tổ chức chuyên về video để đề nghị đóng góp về kỹ thuật[4], đóng góp về kết quả kiểm tra[8],[9], cung cấp thêm về dữ liệu phục vụ cho việc đánh giá chuẩn nén mới[10].

Khi một công ty hay tổ chức đưa ra đề xuất công cụ mã hóa trong các cuộc họp của JVET, nếu công cụ mã hóa đó được đánh giá khả thi thì JVET sẽ tiến hành thực hiện việc đáng giá bằng cách kêu gọi 1 nhóm tình nguyện, độc lập đứng ra đánh giá, thông thường thì cũng là các công ty hoặc nhóm ở trong JVET, kết quả đánh giá sẽ được công bố vào cuộc họp kế tiếp, và từ kết quả đó để quyết định công cụ mã hóa này có được chấp nhận đưa vào chuẩn nén mới hay không.

Đến khi có đủ công cụ mã hóa tích hợp vào chuẩn nén mới để đạt được như yêu cầu thì JVET sẽ công bố tài liệu đặc tả chính thức.

5. Kết quả hiện tại.

Ở thời điểm hiện tại (04/2018), cuộc họp mới nhất là cuộc họp lần thứ 10 của JVET đang diễn ra vào 10/04/2018 ở San Diego, Mẽo.

Theo kết quả cuộc họp trước đó, vào 20/1/2018 thì khả năng nén đã đạt được tầm 20~40% so với HEVC.

Ngoài ra có thể tham khảo thêm tổng kết bảo cáo[11] của Sullivan (làm việc ở Mirosoft, đại diện cho MPEG làm trùm trong đội JVET).

6.Tài liệu tham khảo.

[1]https://mpeg.chiariglione.org/standards/exploration/future-video-coding/presentations-brainstorming-session-future-video-coding
[2]https://mpeg.chiariglione.org/standards/exploration/future-video-coding/requirements-a-future-video-coding-standard-v3
[3]https://www.itu.int/en/ITU-T/studygroups/2017-2020/16/Documents/video/JVET-ToR-TD-PLEN-0155A1.pdf
[4]https://www.itu.int/en/ITU-T/studygroups/2017-2020/16/Documents/video/JVET-H1002-CFP-VCBHEVC-Final-v6.pdf
[5]https://jvet.hhi.fraunhofer.de/
[6]http://wftp3.itu.int/av-arch/jvet-site/
[7]http://phenix.it-sudparis.eu/jvet/
[8]https://www.itu.int/en/ITU-T/studygroups/2017-2020/16/Documents/201701/Video-CfE-Final.pdf
[9]https://mpeg.chiariglione.org/tags/call-evidence
[10]https://mpeg.chiariglione.org/tags/future-video-coding
[11]http://www.cs.brandeis.edu//~dcc/Programs/Program2016KeynoteSlides-Sullivan.pdf 
[12]https://hevc.hhi.fraunhofer.de

Creative Commons License

Liên minh chuẩn nén video mở (Alliance for Open Media)

1. Bối cảnh ra đời

Sau thành công của H.264 (AVC), ITU-T và ISO tiếp tục phát triển H.265 (HEVC), đặc tả kỹ thuật được hoàn thành 2013, và đến 2015 đã dần dần phổ biến khi nhiều công ty bắt đầu giới thiệu sản phẩm có hỗ trợ chuẩn nén này.
Lý do về chi phí bản quyền luôn là nguyên nhân để các công ty phải chi trả nhiều cho nó mong muốn phát triển một chuẩn nén free, tức là không tính tiền bản quyển, ví dụ như trước đây google giới thiệu dòng chuẩn nén VP8, VP9 song song với H.264, H.265 tuy nhiên nó không thực sự thành công, hay có thể vượt mặt được các các chuẩn nén có bản quyền, (riêng VP9 cũng đạt được ít nhiều thành công do nó là chuẩn nén của Google nên tất nhiên Youtube sẽ ưu tiên dùng nó nhất, cây nhà lá vườn mà).
Với H.265 thì chi phí bản quyền còn lớn hơn H.264 nhiều lần do rắc rối tùm lum vụ cãi cọ bằng sáng chế (patent) nên các vị không chơi chung quản lý bản quyền bằng một chỗ như H.264 phó mặc cho MPEG-LA nữa mà chia ra 3-4 chỗ, rồi còn chủ nghĩa địa phương tính xèng bản quyền theo vùng miền ( xem chi tiết ở [9]), chính vì vậy trước khi nó thực sự chiếm thị trường thì nhu cầu cần có 1 chuẩn nén free đối trọng với nó là rất cần thiết.

Trong bối cảnh đó, thì một liên minh chuẩn nén được thành lập với mục tiêu xây dựng được một chuẩn nén free lấn lướt được H.265, với tên là AOM/AV1 được gọi ngắn gọn là AV1. Nhiều công ty đã đưa công nghệ mà trước đó đánh quả lẻ nhằm tạo ra chuẩn nén riêng nhưng đã không gặt hái được nhiều thành công, mong góp phần xây dựng một chuẩn chung, như chuẩn nén Daala (Xiph/Mozilla), VP10(Google), Thor (Cisco).
Với sự tham gia đầu đủ từ các công ty phần mềm (Google, Mozilla …), phần cứng (ARM, AMD …) và cả các công ty cung cấp dịch vụ video( Netflix, Amazon …), có thể nói đây là liên mình video lớn nhất từ trước đến giờ. Đặc biệt có sự tham gia của Apple từ cuối năm 2017, hứa hẹn đây là một chuẩn nén có triển vọng trong tương lai.

2. Kế hoạch phát triển
Các tính năng được chốt vào 10/2017, đặc tả được chốt vào 01/2018, phần thời gian này chắc đã kiểm tra để có được bản chính thức (đoán vậy).

Cả chuẩn đặc tả lẫn open codec sử dụng đển phát triển đặc tả được lưu giữ ở git store dưới.
https://aomedia.googlesource.com

●Cập nhật: 11/04/2018
Tài liệu đặc tả bản draft (bản tạm) được công bố dưới dạng file pdf theo [14].
Phong cách viêt đặc tả tương đối giống tài liệu của ISO & ITU-T, tức là giống cách viết H.264, H.265, miêu tả cấu trúc luồng data, cách phân tích để ra các thông tin, cách decode nhưng không miêu tả thuật toán đứng đằng sau đó. Do lý do đó nên đặc tả thường chỉ dùng tham khảo trong quá trình phát triển codec, chứ không phù hợp cho việc học tập.

3. So sánh với H.264, H.265
Hiện tại do đặc tả cả AV1 vẫn chưa được hoàn thành, có vẻ như thế nên chưa có một báo cáo so sánh nào chi tiết khi so sánh với H.264, H.265. Do một báo cáo chi tiết cần có đánh giá trên phương diện chủ quan (sử dụng 1 tập các tình nguyện viên để xem demo video) nhưng đến thời điểm hiện tại mới chỉ có đánh giá khách quan ( tức là thông qua đo đạc matrix như PNSR …).

Theo báo cáo số [10] cho ta thấy phần lớn các trường hợp thì AV1 chất lượng ngang ngửa với HEVC. Tuy nhiên trong báo cáo [12] và [13] thì cho thấy các codec theo chuẩn nén hiện tại đều xách dép cho AV1. Nhưng ngạc nhiên thay trong báo cáo [11], một báo cáo rất đáng tin cậỵ vì nó được sự chấp thuận của IEEE, lại cho thấy codec theo chuẩn AV1 chỉ ngang ngửa với codec theo chuẩn H.264.

Tóm lại ai hơn ai kém, chắc phải đợi thêm thời gian :).

● Cập nhật: 26/05/2018.
Báo cáo [11] có vẻ thực hiện khi codec AV1 đang ở giai đoạn phát triển. Nên mình có mail hỏi ông anh làm paper đó về kết quả mới nhất thì nhận đc như báo cáo[15].
So với HM (codec dùng phát triển H.265) thì mức độ nén của AV1 codec vẫn kém 30% đến 47%.
Có vẻ về mặt kỹ thuật thì AV1 khó mà qua mặt được H.265 chứ chưa nói đến codec theo chuẩn nén mới mà ISO-IEC/ITU-T đang phát triển, chuẩn nén VVC. Tuy nhiên dưới  sự bảo kê của 1 loạt công ty công nghệ thì vẫn chưa biết ai sẽ là kẻ thắng.

Tài liệu tham khảo
[1]http://aomedia.org
[2]https://en.wikipedia.org/wiki/AV1
[3]https://en.wikipedia.org/wiki/Daala
[4]https://en.wikipedia.org/wiki/Thor_(video_codec)
[5]https://medium.com/@voluntas/av1-の未来が開いた-38c5fd174630
[6]https://hacks.mozilla.org/2017/11/dash-playback-of-av1-video/
[7]https://www.telecompaper.com/news/apple-joins-alliance-for-open-media–1226820
[8]https://hothardware.com/news/apple-joins-alliance-shrink-online-videos-royalty-free-codecs
[9]https://en.wikipedia.org/wiki/High_Efficiency_Video_Coding
[10]https://www.elecard.com/page/aom_av1_vs_hevc
[11]http://ieeexplore.ieee.org/document/7906321/?reload=true
[12]http://www.streamingmedia.com/Articles/Editorial/Featured-Articles/Bitmovin-Pushes-AV1-Forward-Joins-Alliance-for-Open-Media-117634.aspx
[13]https://streaminglearningcenter.com/blogs/av1hevcvp9-comparison-streaming-media-east.html
[14]https://aomediacodec.github.io/av1-spec/av1-spec.pdf
[15]http://iphome.hhi.de/marpe/download/spie-2017.pdf

Creative Commons License

Tản mạn về lịch sử chuẩn nén video

Chuẩn mã hóa video được rất nhiều công ty, tổ chức phát triển, nó cũng gần tương tự như các sản phẩm thương mại, có những chuẩn nén chết yểu mà cũng có những chuẩn nén rất thành công. Ở thời điểm bài viết này (12/2017) thì chuẩn H.264 phổ biến nhất đã thêm level 6, 6.1, 6.2 cho phép hỗ trợ nén lên đến format 8K(8192×4320), chuẩn H.265 gần như đã phát triển xong và rất nhiều công ty đã hỗ trợ như Sony, Apple, hay open source như x265, nhưng nó cũng gặp trở ngại lớn ngoài sự phổ biến của H.264  (giống như do WindowXP phổ biến quá làm các version mới hơn khó phổ biển) thì phí bản quyền quá cao nên Google (Youtube) vẫn chưa thấy kế hoạch support, và một liên minh non trẻ mới thành lập tuyên bố phát triển một chuẩn video mở có tên là AOM AV1 với độ nén vượt quá H.265 [5] chắc do bất mãn với phí bản quyền H.265 đã đi ngược triết lí của ISO là “kỹ thuật đi trước tiền bạc tính sau”.

Tuy các cũng có những công ty đầu sỏ về xử lý video và có tiền bạc nên có thể tự đứng ra thiết kế chuẩn nén video như Google với VP8, VP9 hay Cisco System với Thor, nhưng nổi trội nhất vẫn là 2 tổ chức ISO/IEC và ITU-T. Tính từ năm 1984, 2 nhóm nghiên cứu về xử lý đa phương tiện của thuộc 2 tổ chức này cụ thể là VCEG thuộc ITU-T chuyên nghiên cứu về xử lý video tập trung vào các ứng dụng truyền thông, đàm thoại do đó thường ưu tiên những thuật toán để giảm độ trễ, birate thấp …, nhóm còn lại là MPEG thuộc ISO/IEC chuyên nghiên cứu về video cho các ứng dụng đa phương tiện, như truyền hình, hay phục vụ các trình xử lý play video nên ưu tiên các thuật toán liên quan đến hiệu năng nén.
Trong quá trình phát triển video codec được lãnh đạo bởi 2 tổ chức này, có những chuẩn video được mỗi tổ chức phát triển riêng, và cũng có chuẩn video được phát triển bởi sự hợp tác của 2 tổ chức này. Lược sử phát triển chuẩn video của 2 tổ chức tổng kết như hình dưới.

history_video
(Hình vẽ trích dẫn trong slide 5 ở tài liệu [9]).

Năm 1984, ITU-T ra mắt chuẩn nén video được coi là chuẩn nén video số đầu tiên với tên gọi H.120, nhưng theo wiki H.120 thì không có bất kì một codec nào dùng chuẩn nén này, tức là về mặt ứng dụng không thằng nào dùng cả, nghe đâu do hiệu năng thấp.

Đến tháng 11 năm 1988, ITU-T tiếp tục giới thiệu H.261, với tài liệu đặc tả chỉ vẻn vẹn 29 trang quá khiêm tốn với hơn 400 trang của những chuẩn nén hiện tại. Tuy thế H.261 đưa ra những khái niệm quan trọng như Macroblock vẫn còn được dùng đến tận 20 năm sau ở H.264, chỉ đến lúc H.265 (năm 2013) mới dẹp tên gọi này mà sử dụng tên gọi mỹ miều hơn CTU (Coding Tree Unit) tuy bản chất vẫn là mở rộng của Macroblock. Đặc biệt hơn, từ H.261 bắt đầu đưa ra kiến trúc của việc hoạt động video coding “Hybrid Coding Concept” như là hoạt động của bộ mã hoá video. Toàn bộ các chuẩn mã hoá về sau MPEG2-Video/H.262, H.263, AVC/H.264, HEVC/H265 và chuẩn đang được xây dựng cho đến thời điểm này (08/2018) VVC/H.26x, đều dựa vào cấu trúc trên.

Cũng cùng năm đó ISO/IEC giới thiệu chuẩn nén video đầu tiên của mình, mang tên MPEG1 Part2 tức là MPEG1 video nằm trong hệ thống MPEG1, nhưng cũng chẳng lấy gì làm thành công cho lắm.

Vào năm 1995, lần đầu tiên 2 tổ chức này cùng hợp tác giới thiệu chuẩn nén chung. ISO/IEC thì gọi là MPEG2 Part2 (MPEG2 video), còn ITU-T thì gọi là H.262 (thuộc dòng chuẩn H.26L). Do mục đích phát triển chuẩn nén video của 2 tổ chức khác nhau nên cũng là lần đầu tiên xuất hiện các khái niệm profile & level trong chuẩn video, nhằm giới hạn thành các tập con trong chuẩn nén phù hợp với từng ứng dụng khác nhau.

Sau đó ITU-T tiếp tục giới thiệu thêm một chuẩn video riêng của mình là H.263 vào 1995, đồng thời ISO/IEC cũng chẳng kém cạnh đã đưa ra MPEG4 Part2, nhưng có vẻ cả 2 thằng đều không được thành công nếu dựa vào mức độ phổ biến.

Sau khi định đánh quả lẻ không thành, 2 tổ chức tiếp tục bắt tay hợp tác để rồi vào năm 2003 đưa ra MPEG-4 Part10/H.264. Chuẩn nén này được thừa kế rất nhiều những thuật toán ưu việt của những chuẩn nén trước đó, đồng thời cũng có sự thay đổi rất mạnh mẽ về cấu trúc bit stream, đưa ra những khái niệm như NAL, và có vẻ xa rời các khái niệm liên quan đến hình ảnh (picture header, sequence header …) do đó làm cho những ai đã quen với MPEG-2 thì khi tiếp xúc với H.264 rất khó nắm bắt.
H.264 chuẩn nén được xem là thành công nhất cho đến thời điểm hiện tại, theo thống kê vào năm 2010 thì mức độ sử dụng H.264 trên internet hơn 60%. Mặc dù lúc đầu đối tượng của H.264 là video format FHD (1920×1080) tuy nhiên đến thời điểm hiện tại (2017) phiên bản mới nhất của H.264 cho phép hỗ trợ đến tận 8K(8192×4320) .

Thành công nối tiếp thành công, ISO/IEC và ITU-T tiếp tục thành lập nhóm JVCT để thiết kế và đưa ra MPEG H Part2/H.265 vào năm 2013, với đối tượng là video 4K và yêu cầu độ nén gấp đôi H.264 với cho phép mức độ phức tạp gấp 10 lần (đo ước lượng bằng thời gian mã hoá trên cũng một hệ thống). Đến thời điểm hiện nay 2017 thì chuẩn nén này về cơ bản đã hoàn thành tuy vẫn đang được tiếp tục bổ sung chỉnh sửa nên JVCT vẫn tiếp hành họp hằng năm (1 năm 4 lần).

Với tần suất 10 năm cần có một chuẩn nén mới, do độ phân giải màn hình tăng lên gấp 4 nhưng tốc độ internet chỉ tăng lên gấp đôi 🙂 do đó cần một chuẩn nén mới để tăng hiệu năng nén gấp đôi chuẩn nén hiện tại. Trong bối cảnh đó JEVT là nhóm chung của 2 tổ chức được thành lập với kế hoạch năm 2020 đưa ra chuẩn nén mới ( chắc ITU-T gọi là H.266?) với yêu cầu độ nén gấp đôi H.265, đối tượng là video format 8K, có thêm các thuật toán phù hợp mới các ứng dụng video mới nổi như video 360 độ, VR/AR …

Trong khi chưa biết tương lai nào cho H.265 vì phí bản quyền H.265 rất cao, có những trường hợp gấp trên dưới 10 lần H.264, do đó nhưng công ty sử dụng nhiều chuẩn nén video như google (youtube) rất lo sợ một khi H.265 trở nên phổ biến. Chắc cũng vì nguyên nhân đó mà liên minh chuẩn nén video mở được thành lập, theo kế hoạch là trong năm nay (2017) sẽ hoàn thành đặc tả kĩ thuật đồng thời có cả codec open đi kèm, với sự tham gia cả những công ty về phần cứng như AMD, ARM hay những công ty về dịch vụ như Amazon, Netflix … thì liên minh này rất hi vọng AOM AV1, tên của chuẩn nén mở này, sớm cất cánh và hạ gục H.265.

Tương lai nào chờ đợi H.265? Liệu ISO/IEC & ITU-T có tiếp tục thắng thế so với các chuẩn mở.

Update 14/04/2018: AV1 có vẻ đang hung hãn lên dần (đã công bố đặc tả pdf version, tuy vẫn là bản tạm thời), khoe rất nhiều ở NAB.

Update 01/08/2018: Chuẩn nén sau HEVC của ISO/IEC & ITU-T đã chính thức mang tên VVC.

Tài liệu tham khảo
[1]https://en.wikipedia.org/wiki/H.264/MPEG-4_AVC
[2]https://en.wikipedia.org/wiki/Video_coding_format
[3]https://en.wikipedia.org/wiki/H.261
[4]https://techcrunch.com/2010/05/01/h-264-66-percent-web-video/
[5]http://aomedia.org
[6]H.120: https://www.itu.int/rec/T-REC-H.120-199303-I/en
[7]H.262: http://www.itu.int/rec/T-REC-H.262-201202-I/en
[8]https://aomedia.org/news/aomedia-at-nab/
[9]https://www.slideshare.net/MathiasWien/trends-and-recent-developments-in-video-coding-standardization

Creative Commons License

Phân biệt “video codec” và “video coding format”

Khi bàn về việc nén video thường có sự nhầm lẫn giữa video codec và video coding format (chuẩn nén video). Sự nhầm lẫn này thường thấy trong bộ phận kỹ sư liên quan đến phát triển sản phẩm mã hóa video, chứ không phải trong lĩnh vực nghiên cứu (đã đi nghiên cứu thì chắc chả thằng nào nhầm) . Hầu hết đều mặc định video codec chính là video coding format, do đó nhiều lúc sinh ra những nhầm lẫn về mặt kiến thức cơ bản, không đáng để xẩy ra do đó cũng nên phân biệt rõ ràng.

1. Video coding format.
“Video coding format” hay còn gọi là “video compression format” tạm dịch tiếng Việt là chuẩn mã hoá video ( riêng chữ video không biết dịch tiếng Việt là gì luôn :D), là tài liệu miêu tả cách biểu diễn dữ liệu dùng để mã hoá video. Nói một cách dễ hiểu hơn là dựa vào tài liệu đặc tả thì có thể giải mã một tệp (hoặc 1 luồng dữ liệu) video để tạo ra một chuỗi hình ảnh, sẽ phục vụ cho việc hiển thị.

Một chú ý quan trọng là dựa vào tài liệu đặc tả video chỉ chắc chắn có thể thực hiện được quá trình giải mã, còn chiều thực hiện mã hoá thành dữ liệu nén video, ngoài đặc tả chuẩn video thì một số quá trình cho phép mỗi cách thực hiện cho thể tự tối ưu bằng những thuật toán khác nhau, ví dụ như quá trình xử lý dự đoán chuyển động giữa các hình ảnh, quá trình chọn mức độ nén để đảm bảo đầu ra được tối ưu nhất (đạt được chất lượng tối ưu với ràng buộc của bitrate)…

Ví dụ về chuẩn H.264 và H.265 là các tài liệu đặc tả lần lượt theo đường dẫn dưới.
H.264(MPEG4-Part10): https://www.itu.int/rec/T-REC-H.264-201610-P/en
H.265(MPEG H Part2): https://www.itu.int/rec/T-REC-H.265-201504-I/en

2. Video codec.
Chữ CODEC là kết hợp viết tắt của 2 chữ enCOder và DEcoder, từ đó có thể hiểu đơn giản video codec bao gồm video encoder và video decoder (trên thực tế thì chỉ cần Decoder hoặc Encoder đã có thể gọi là codec), tức là một chương trình  thực hiện quá trình mã hóa và giải mã hóa, việc thực hiện như thế nào thì phụ thuộc vào chương trình đó thực hiện dựa trên video coding format nào.

Nói cách khác thì video codec là cách thức thực thi mã hoá hoặc giải mã video theo tài liệu đặc tả, ví dụ với đặc tả H.264 thì có rất nhiều video codec như x264 được phát triển với Videolan hay openh264 được phát triển bởi cisco, hay kiểu tên gọi codec của Sony trong các thiết bị sản xuất bởi Sony, codec của Apple trong Iphone, Ipad …

Do đặc tả chuẩn video ràng buộc chi tiết về quá trình giải mã, do đó phần giải mã trong video codec cho dù được thực hiện bởi chương trình nào thì cũng phải cho ra một kết quả giải mã giống nhau, nhưng quá trình mã hoá, ngoài phần bắt buộc tuân theo chuẩn mã hoá thì còn có phần cho phép mỗi chương trình tự tối ưu theo nhu cầu riêng để đạt được bộ mã hoá (encoder) tối ưu, thường là đạt chất lượng tốt theo hạn chế của hiệu năng hệ thống và yêu cầu bitrate.

Ví dụ về video codec theo chuẩn H.264 & H265..
x264: http://www.videolan.org/developers/x264.html
x265: http://x265.org/

3.Tài liệu tham khảo.
[1]https://en.wikipedia.org/wiki/Video_coding_format
[2]https://en.wikipedia.org/wiki/Video_codec
[3]THE H.264 ADVANCED VIDEO COMPRESSION STANDARD – Iain E. Richardson

 
Creative Commons License